Phát hiện và điều trị ung thư gan

11:03 |
Ung thư gan gồm ung thư nguyên phát và ung thư thứ phát. Ung thư gan nguyên phát là xuất phát từ tế bào gan hoặc tế bào ống mật. Ung thư gan thứ phát là ung thư di căn từ các nói khác đến như ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, tụy, thực quản… 

Những nguyên nhân gây ung thư gan


- Viêm gan virút B: khi viêm gan B sẽ gây đột biến ADN ở nhân tế bào gây ung thư. 

- Viêm gan virút C: viêm gan C sẽ gây viêm gan mạn và dẫn đến ung thư gan. 

- Nhiễm độc aflatoxin: có trong đậu mốc, thức ăn ôi thiu. 

- Nhiễm dioxin: gây đột biến tế bào và gây nên ung thư. 

- Nhiễm các hóa chất độc hại khác. 

- Viêm gan do rượu: lâu ngày dẫn đến xơ gan, ung thư gan. 

Cách phát hiện 

Bệnh nhân mắc ung thư gan giai đoạn đầu rất khó phát hiện vì không có triệu chứng. Về sau hay đau tức dưới sườn bên phải, ăn uống chậm tiêu, đôi khi có sốt. Khi sờ thấy gan to ở vùng dưới sườn phải, hoặc vàng da, báng bụng là đã ở giai đoạn muộn. 

Chẩn đoán thường dựa vào siêu âm bụng, CT, hoặc chụp MRI vùng bụng. Siêu âm là phương tiện dễ thực hiện, không nguy hại, giá thành rẻ, chẩn đoán chính xác ung thư gan khoảng 90%. CT cho thấy việc phân tích hình ảnh dễ dàng hơn và chẩn đoán ung thư gan nguyên phát chắc chắn hơn. Nhưng phương tiện này đắt tiền, khó thực hiện hơn siêu âm, người bệnh phải vào bệnh viện mới thực hiện được. 

-Xét nghiệm máu chủ yếu đo nồng độ AFP trong huyết thanh là một loại alphafeto protein có trong thời kỳ bào thai khi lớn lên thì do gan tiết ra. AFP tăng cao trong ung thư gan nguyên phát, tăng > 500 ng/ml: gần như chắc chắn là ung thư gan nguyên phát. AFP được sử dụng trong một thời gian dài để chẩn đoán ung thư gan nguyên phát, là một trong các xét nghiệm tầm soát ung thư gan. 

AFP có dương tính giả trong một số trường hợp bệnh lý mô gan: viêm gan siêu vi cấp, bệnh gan mãn, xơ gan, di căn gan. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy AFP có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp. AFP có thể tăng trong bệnh lý ung thư đường mật trong gan và ung thư đại tràng di căn gan. 

- Định lượng DCP (des-y-carboxylprothrombin) còn được gọi là PIVKA-II, một loại protein prothrombin tăng bất thường trong máu ở bệnh nhân ung thư gan nguyên phát. 

Độ nhạy và độ chuyên đối với u < 5 cm thay đổi từ 0,14 - 0,54 và 0,95 - 0,99 ở giá trị ngưỡng 40 mAU/ml và 0,07 - 0,56; 0,72 - 1.0 ở ngưỡng giá trị 100 mAU/ml. Định lượng AFP với giá trị ngưỡng 200 ng/ml cùng với DCP có giá trị ngưỡng là 40 mAU/ml cho độ nhạy 48% và độ đặc hiệu 99%. DCP kết hợp với protein p53 để tiên đoán ung thư gan nguyên phát kích thước nhỏ. 

Sinh thiết gan cho giá trị chẩn đoán xác định nhưng chỉ sử dụng ở cơ sở y tế. 


Điều trị ung thư gan

Khi mắc bệnh ung thư gan, tùy từng trường hợp u to hay nhỏ mà có chỉ định điều trị thích hợp. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư gan như: đốt u gan bằng sóng cao tần, bằng microwave, bằng công nghệ Nano; bơm hóa dầu làm tắc mạch; phẫu thuật cắt khối u gan. 

Phòng bệnh 

Nên đi khám siêu âm bụng định kỳ 3 - 6 tháng/ lần. Sau khi siêu âm có kết quả nghi ngờ ung thư gan thì nên nhập viện để chụp CT hoặc MRI theo chỉ định của bác sĩ. Khi mắc bệnh viêm gan B, C, phải đến bác sĩ chuyên khoa điều trị triệt đễ bệnh lý này. 

- Tránh dùng chung bơm kim tiêm với người nhiễm viêm gan B; tránh ăn uống cùng chung thìa, muỗng, chén, bát với những người viêm gan C. 

- Ăn uống tránh các thức ăn nhiễm hóa chất, đậu mốc. Hạn chế bia, rượu, thức uống có nồng độ cồn cao. 


TS. NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN
Click đọc ngay…

Giải pháp phòng rối loạn tiêu hóa cho người cao tuổi

21:30 |
Chứng rối loại tiêu hóa (RLTH) dễ đưa đến các hệ lụy xấu cho sức khỏe, đặc biệt là người cao tuổi (NCT). Hầu hết RLTH có thể phòng ngừa được nếu thực sự quan tâm đúng mức. 

Những rối loạn tiêu hóa thường gặp 

RLTH là một bệnh rất hay gặp ở NCT, bởi vì, khi tuổi đã cao, sức đề kháng yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công. Nhiều NCT hoặc con cháu của họ hay than phiền là ông bà, cha mẹ mình thường chán ăn hay kêu mệt mỏi, không muốn ăn, nếu không động viên thì rất dễ bỏ bữa.


Nhiều NCT cho biết họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ănnhư những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm bài tiết dịch vị (nước bọt,dịch dạ dày, dịch ruột, dịch mật...). 

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm để dễ nuốt, nhưng cũng khó khắc phục được, hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn.

Lý do gây nghẹn ở NCT có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng làm giảm sự co bóp của đường tiêu hóa, nhất là các cơ ở thực quản, dạ dày. Vì lý do suy giảm chức năng co bóp của đường tiêu hóa và các men tiêu hóa cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, trướng bụng, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mỡ, nhiều đạm. 

Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn các loại thức ăn bổ dưỡng như thịt, cá hoặc rất ngại uống sữa. NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm càng có tuổi bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày - tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày), viêm đại tràng co thắt, viêm đại tràng mạn tính. 

Sa dạ dày là một bệnh có thể gặp ở tuổi trẻ nhưng với NCT thì gây phiền phức hơn nhiều do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ). 

Các bệnh RLTH và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là RLTH làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên. 

Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định thì việc tiêu hóa thức ăn tốt. Ngược lại, khi hệ thống gan, mật không tốt thì ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Do đó, một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, gan nhiễm mỡ, viêm đường mật mạn tính hoặc bệnh sỏi mật. 

Thống kê cho thấy, NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể. Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, đặc biệt táo bón ở NCT. Lý do gây táo bón ở NCT thì có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ít ăn rau, qủa hoặc ăn rất ít, thêm vào đó lại uống ít nước. 

Càng ăn ít rau, uống ít nước, kèm theo ít vận động thì hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu đi đến hệ thống thần kinh. 

Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh sẽ gây đau và chảy máu. Chính vì các lý do đó mà táo bón càng ngày càng nặng thêm gây đau quặn bụng, nhất là vùng bụng dưới và 2 hố chậu dễ nhầm lẫn với bệnh tiết niệu (viêm hoặc sỏi) hoặc viêm ruột thừa (hố chậu phải). 


NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên, bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, gây mất ngủ. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và đặc biệt là có sa sút trí tuệ thì táo bón kéo dài lại càng bất lợi cho bản thân người bệnh và cả người nhà. Nên lưu ý là khi tinh thần không thoải mái, căng thẳng cũng có khả năng gây táo bón. 

Có thể phòng bệnh ngừa được không? 

Phòng bệnh RLTH ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số NCT nhiều khi không cần dùng thuốc cũng có thể khỏi bệnh hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng RLTH cho NCT là có chếđộ ăn, uống hợp lý kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái. 

Một số NCT chán ăn, không thèm ăn thì người nhà cần động viên và nếu cần thì phải có động tác hỗ trợ trong các bữa ăn (động viên, bón cơm, cháo, uống nước), nhất là NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để giúp họ không bỏ bữa. 

Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thìnên ăn thêm củ khoai lang luộc, canh rau mồng tơi, rau đay. 

Nếu bị bệnh về dạ dày,viêm đại tràng, gan, mật thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi. 

Cần vận động cơ thể hàng ngày, đều đặn,nhẹ nhàng (xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ, đi bộ). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân, không nên ngồi một chỗ trong nhiều giờ. Nếu có điều kiện và sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn, chơi cầu lông, bơi lội… 

Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 - 3 lần tập, không tập một lúc 60 phút. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như đọc sách báo, xem vô tuyến, nghe đài… 


PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Click đọc ngay…

Thuốc chữa rối loạn tiêu hóa do ăn uống

14:28 |
Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng rất thường gặp. Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh thường có biểu hiện như đau bụng, đầy bụng khó tiêu, đi phân lỏng hoặc tiêu chảy... Vậy việc dùng thuốc trong các trường hợp này như thế nào? 

Đầy bụng khó tiêu 

Đầy bụng khó tiêu là cảm giác đầy trướng bụng, tức bụng, ậm ạch khó chịu, thường xảy ra sau khi ăn nhưng cũng có khi suốt ngày và tăng lên sau khi ăn. Nguyên nhân là do có sự tích khí trong đường tiêu hóa, do tiêu hóa không tốt, thức ăn bị ứ đọng ở dạ dày. 


Khi bị cảm giác này có thể dùng gừng giã nhỏ lấy nước hoà với nước ấm sẽ giúp giảm triệu chứng này. Ngoài ra có thể dùng một số thuốc sau, nhưng cũng chỉ dùng trong khoảng 5-7 ngày, nếu tình trạng không được cải thiện cần đi khám bệnh: 

Maalox: Được dùng khi bị chứng khó tiêu đầy bụng kèm theo ợ chua do thừa axit dịch vị. Thuốc có tác dụng kháng axit dịch vị, bảo vệ niêm mạc thực quản, niêm mạc dạ dày tá tràng, điều trị chứng đầy bụng chậm tiêu. Dùng thuốc sau ăn từ 30 - 60 phút. 

Domperidon: Dùng khi sự co bóp dạ dày kém đưa đến sự chuyển đẩy thức ăn từ dạ dày xuống ruột chậm. Thuốc có tác dụng điều hòa nhu động dạ dày - ruột, trị các chứng đầy bụng, buồn nôn. Không dùng thuốc cho người có tiền sử chảy máu dạ dày - ruột, nghẽn ruột, phụ nữ có thai. 

Neopeptine: Đây là men tiêu hoá sẽ giúp thức ăn tiêu hoá dễ dàng hơn giảm cảm giác đầy bụng chướng hơi. 

Phân lỏng hoặc tiêu chảy 

Khi bị rối loạn tiêu hoá người bệnh có thể đi ngoài phân lỏng, thậm chí nhiều nước (tiêu chảy). Nếu đi phân lỏng có thể dùng berberin (được chiết xuất từ cây hoàng đằng). Thuốc này được xem là một loại kháng sinh thực vật có tác dụng diệt một số vi khuẩn gây bệnh đường ruột, được chỉ định trong hội chứng lỵ do trực khuẩn, viêm ruột, tiêu chảy... Ngoài ra, berberin còn có tác dụng làm tăng tiết mật, giúp tiêu hóa tốt. 

Nếu tiêu chảy, việc đầu tiên cần bù nước và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol (cần pha đúng tỷ lệ theo hướng dẫn trên bao bì/nhãn của sản phẩm). Trong trường hợp không có sẵn oresol có thể thay bằng nước cháo muối hoặc đường muối pha 1 thìa cà phê muối với 8 thìa đường trong 1 lít nước sẽ được dung dịch để uống khi bị tiêu chảy. 

Không được dùng thuốc để cầm tiêu chảy, vì trong trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, chất độc, dùng thuốc cầm ngay tiêu chảy không có lợi, cơ thể cần tiêu chảy để tống chất độc ra khỏi cơ thể. Chỉ khi tiêu chảy không khu trú, kéo dài mới tính tới chuyện dùng thuốc cầm tiêu chảy như loperamid (tốt nhất là dùng theo chỉ định của bác sĩ). 

Khi bị tiêu chảy nặng hoặc tiêu chảy hơn 3 ngày cần đi khám bệnh để được xử lý kịp thời, thích hợp. 


DS. Hoàng Thu Thủy
Click đọc ngay…

Thuốc thường dùng trong hội chứng ruột kích thích

23:11 |
Tôi làm nhân viên văn phòng và mắc hội chứng ruột kích thích đã 2 năm nay. Tôi thường xuyên bị những cơn đau quặn bụng và phải đi ngoài vài lần trong ngày, rất ảnh hưởng đến công việc. Xin quý báo cho biết loại thuốc nào điều trị và có cách gì để hạn chế hội chứng ruột kích thích? Tôi xin cảm ơn. 

Vũ Hằng Nga (Nam Định) 

Bác sĩ trả lời:



 
Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là bệnh do rối loạn chức năng của ruột dẫn đến đau thắt ruột, đầy hơi...Trong một số trường hợp mắc HCRKT có táo bón, số khác có kèm tiêu chảy và một số thì có cả hai dấu hiệu trên. Thỉnh thoảng những người bị HCRKT có những cơn đau thắt ruột gây cảm giác muốn đi đại tiện. 

Bệnh thường có triệu chứng nổi bật tại hệ tiêu hóa. Đau bụng là triệu chứng thường gặp, người bệnh thường có cảm giác đau ở vùng hạ vị hoặc hố chậu trái, cũng có thể đau ở bên phải hoặc thượng vị, đau dọc theo khung đại tràng, đôi khi người bệnh chỉ cảm giác tức nặng, ấm ách khó chịu và đau bụng thường giảm đi sau khi đại tiện. 

Nguyên nhân của HCRKT đến nay vẫn chưa được biết đến và chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Trong đợt tiến triển của bệnh, một số thuốc cũng nên được dùng để điều trị triệu chứng như: 

Thuốc giảm đau (giảm co thắt đại tràng): duspataline, no-spa, spasfon... 

Thuốc điều trị táo bón: thuốc nhuận tràng (forlax, duphalac, ispaghula-microlax, psyllium, cám gạo...). 

Thuốc điều trị tiêu chảy: smecta, actapulgite, imodium, codein, diphenoxylate + atropin, loperamid... 

Thuốc điều trị sình hơi: meteospasmyl, pepsan, than hoạt... 

Thuốc an thần kinh: rotunda, seduxen, dogmatyl... 

Thuốc chống co thắt như mebeverin (uống trước bữa ăn). 

Thuốc làm tăng co bóp cũng có thể dùng như motilium-M (uống trước ăn). 

Bạn nên đi khám bệnh để được bác sĩ chỉ định dùng thuốc nào, liều lượng bao nhiêu. Bên cạnh việc dùng thuốc điều trị HCRKT, cần chú ý đến chế độ ăn nên nhiều đạm, ít mỡ và không kiêng khem quá mức. Nên chia làm nhiều bữa nhỏ, tránh ăn quá no. 

Không nên ăn các thức ăn khó tiêu, dễ sinh hơi như khoai, sắn, bánh ngọt nhiều bơ, hoa quả có nhiều đường (cam, quýt, xoài, mít...). Tránh các đồ uống nhiều đường và có gas, chất kích thích (rượu, cà phê, gia vị chua cay...), những thức ăn để lâu, bảo quản không tốt. 

Nếu có tiêu chảy tránh ăn quá nhiều thức ăn có nhiều chất xơ (rau muống, rau cải, dưa...). Giảm hoặc loại bỏ stress, tăng cường các hoạt động thể chất, tập khí công, yoga cùng với các phương pháp thư giãn... cũng góp phần đáng kể vào việc làm giảm các triệu chứng của HCRKT. 


DS. Minh Anh
Click đọc ngay…

Khi đau dạ dày, nên và không nên làm gì?

09:15 |
Đau dạ dày là một bệnh phổ biến, không chỉ mang lại những phiền toái trong sinh hoạt, cuộc sống thường ngày mà quan trọng là tác động xấu tới tình trạng sức khỏe. Người bị đau dạ dày cần có một chế độ ăn uống sinh hoạt khoa học để giảm thiểu tối đa mức độ thương tổn và giúp việc điều trị được nhanh chóng hơn. Sau đây là những điều nên và không nên người đau dạ dày cần ghi nhớ.


Click đọc ngay…

Tổng hợp thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng

17:03 |
Loét dạ dày- tá tràng là bệnh lý đường tiêu hóa phổ biến, hậu quả của sự mất cân bằng giữa các yếu tố gây loét (acid clohydric, pepsin, xoắn khuẩn Helicobacter pylori) và các yếu tố bảo vệ tại chỗ niêm mạc dạ dày (chất nhày, bicarbonat, prostaglandin). 

Xoắn khuẩn H.pylori đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ gây loét: khoảng 95% người loét tá tràng và 70- 80% người loét dạ dày có vi khuẩn này. Chúng gây viêm dạ dày mạn và làm tăng bài tiết acid. Diệt trừ được H.pylori sẽ làm ổ loét liền nhanh và giảm rõ rệt tỷ lệ tái phát.



Các nhóm thuốc thường dùng trong loét dạ dày tá tràng:

- Thuốc kháng acid: Magie oxit và nhôm oxit

- Thuốc giảm tiết dịch vị: Thuốc kháng h1 và thuốc ức chế bơm proton

- Thuốc bao niêm mạc dạ dày

- Thuốc tiêu diệt H.pylori

1. Thuốc kháng acid 

1.1. Tính chất chung 

Các thuốc kháng acid là những thuốc có tác dụng trung hoà acid trong dịch vị, nâng pH của dạ dày lên gần 4, tạo điều kiện thuận lợi cho tái tạo niêm mạc. Khi pH dạ dày tăng, hoạt tính của pepsin sẽ giảm (pepsin bị bất hoạt trong dung dịch pH lớn hơn 4). Các thuốc kháng acid có tác dụng nhanh nhưng ngắn, chỉ là thuốc điều trị triệu chứng, cắt cơn đau. 

Khi dạ dày rỗng, các thuốc kháng acid thoát khỏi dạ dày sau 30 phút, khi có thức ăn thì khoảng 2 giờ. Thuốc kháng acid thường dùng nhất là các chế phẩm chứa nhôm và magnesi, có tác dụng kháng acid tại chỗ, hầu như không hấp thu vào máu nên ít gây tác dụng toàn thân. 

Thuốc kháng acid chứa magnesi có tác dụng nhuận tràng, ngược lại thuốc chứa nhôm có thể gây táo bón. Vì vậy, các chế phẩm kháng acid chứa cả hai muối magnesi và nhôm có thể làm giảm tác dụng không mong muốn trên ruột của hai thuốc này. Nếu chức năng thận bình thường, rất ít nguy cơ tích luỹ magnesi và nhôm. 

Natribicarbonat có tác dụng trung hòa acid dịch vị mạnh, nhưng hiện nay hầu như không dùng làm thuốc kháng acid nữa vì hấp thu được vào máu, gây nhiều tác dụng không mong muốn toàn thân và có hiện tượng tiết acid hồi ứng (tăng tiết acid sau khi ngừng thuốc). 

Dùng thuốc kháng acid tốt nhất là sau bữa ăn 1 - 3 giờ và trước khi đi ngủ, 3- 4 lần (hoặc nhiều hơn) trong một ngày. Các chế phẩm dạng lỏng có hiệu quả hơn dạng rắn nhưng thời gian tác dụng ngắn hơn. Do làm tăng pH dạ dày, các thuốc khán g acid làm ảnh hưởng đến sự hấp thu của nhiều thuốc khác, phải dùng các thuốc này cách xa thuốc kháng acid ít nhất 2 giờ. 

Một số chế phẩm phối hợp thuốc kháng acid với simeticon (chất chống sủi bọt) để làm giảm sự đầy hơI hoặc làm nhẹ triệu chứng nấc. 

1.2. Các chế phẩm thường dùng 

Magnesi hydroxyd - Mg(OH)2 và Nhôm hydroxyd - Al(OH)3

Chỉ định 

- Tăng tiết acid (đau, đầy bụng, khó tiêu, ợ nóng, ợ chua) ở người có loét hoặc không có loét dạ dày- tá tràng. 

- Trào ngược dạ dày- thực quản. 

Chống chỉ định 

Mẫn cảm với thuốc, suy thận nặng, trẻ nhỏ (đặc biệt ở trẻ mất nước và suy thận). 

Tác dụng không mong muốn 

Miệng đắng chát, buồn nôn, nôn, cứng bụng, ỉa chảy, tăng magnesi máu (gặp ở người suy thận hoặc dùng liều cao, kéo dài). 

Tương tác thuốc 

Các thuốc giảm hấp thu khi dùng cùng thuốc kháng acid: tetracyclin, digoxin, indomethacin, các muối sắt, isoniazid, benzodiazepin, ranitidin.

Các thuốc tăng tác dụng do giảm thải trừ khi dùng cùng thuốc kháng acid: amphetamin, quinidin. 

Liều lượng, cách dùng 

- Magnesi hydroxyd: Người lớn: mỗi lần uống 300- 600 mg, tối đa tới 1g, ngày 3- 4 lần. Nhai kỹ viên thuốc trước khi nuốt. 

- Nhôm hydroxyd: Người lớn: dạng viên nhai mỗi lần 0,5 - 1,0g, dạng hỗn dịch uống mỗi lần 320 - 640 mg, ngày 4 lần. Trẻ em: 6- 12 tuổi: dạng hỗn dịch uống mỗi lần 320 mg, ngày 3 lần. 

* Chế phẩm phối hợp magnesi hydroxyd và nhôm hydroxyd 

- Dạng hỗn dịch chứa magnesi hydroxyd 195 mg và nhôm hydroxyd 220mg trong 5mL. Người lớn uống mỗi lần 10- 20 mL 

- Dạng viên: chứa magnesi hydroxyd 400 mg và nhôm hydroxyd 400 mg. Người lớn mỗi lần nhai 1- 2 viên, tối đa 6 lần một ngày. 

* Chế phẩm phối hợp thuốc kháng acid và simeticon: dạng viên hoặc dạng hỗn dịch (chứa magnesi hydroxyd 195 mg, nhôm hydroxyd 220 mg và simeticon 25 mg trong 5 ml. Người lớn uống mỗi lần 5- 10 mL, ngày 4 lần). 

2. Thuốc làm giảm bài tiết acid clohydric và pepsin của dạ dày 

2.1. Thuốc kháng histamin H2 

Cơ chế tác dụng 

Do công thức gần giống với histamin, các thuốc kháng histamin H 2 tranh chấp với histamin tại receptor H2 và không có tác dụng trên receptor H 1. Tuy receptor H2 có ở nhiều mô như thành mạch, khí quản, tim, nhưng thuốc kháng histamin H 2 tác dụng chủ yếu tại các receptor H2 ở dạ dày. 

Thuốc kháng histamin H2 ngăn cản bài tiết dịch vị do bất kỳ nguyên nhân nào làm tăng tiết histamin tại dạ dày (cường phó giao cảm, thức ăn, gastrin, bài tiết cơ sở). Tác dụng của thuốc kháng histamin H2 phụ thuộc vào liều lượng, thuốc làm giảm tiết cả số lượng và nồng độ HCl trong dịch vị 

Chỉ định 

- Loét dạ dày- tá tràng lành tính, kể cả loét do dùng thuốc chống viêm không steroid. 

- Bệnh trào ngược dạ dày- thực quản. 

- Hội chứng tăng tiết acid dịch vị (Hội chứng Zollinger - Ellison) 

- Làm giảm tiết acid dịch vị trong một số trường hợp loét đường tiêu hóa khác có liên quan đến tăng tiết dịch vị như loét miệng nối dạ dày - ruột 

- Làm giảm các triệu chứng rối loạn tiêu hóa (nóng rát, khó tiêu, ợ chua) do thừa acid dịch vị. 

- Làm giảm nguy cơ hít phải acid dịch vị khi gây mê hoặc khi sinh đẻ (Hội chứng Mendelson). 

Chống chỉ định và thận trọng 

- Chống chỉ định: quá mẫn với thuốc 

- Thận trọng: trước khi dùng thuốc kháng histamin H2, phải loại trừ khả năng ung thư dạ dày, đặc biệt ở người từ trung niên trở lên vì thuốc có thể che lấp các triệu chứng, làm chậm chẩn đoán ung thư. Có nhạy cảm chéo giữa các thuốc trong nhóm kháng histamin H2. 

Dùng thận trọng, giảm liều và/ hoặc kéo dài khoảng cách giữa các lần dùng thuốc ở người suy thận. Thận trọng ở người suy gan, phụ nữ có thai và cho con bú (ngừng thuốc hoặc ngừng cho con bú). 

Tác dụng không mong muốn 

Ỉa chảy và các rối loạn tiêu hóa khác, tăng enzym gan, đau đầu, chó ng mặt, phát ban. 

Hiếm gặp viêm tụy cấp, chậm nhịp tim, nghẽn nhĩ thất, lẫn lộn, trầm cảm, ảo giác (đặc biệt ở người già), rối loạn về máu, phản ứng quá mẫn. 

Chứng vú to ở đàn ông và thiểu năng tình dục gặp ở người dùng cimetidin nhiều hơn các thuốc kháng histamin H2 khác. 

Tương tác thuốc 

Do pH dạ dày tăng khi dùng thuốc kháng histamin H 2 nên làm giảm hấp thu của một số thuốc như penicilin V, ketoconazol, itraconazol Cimetidin ức chế cytochrom P450 ở gan nên làm tăng tác dụng và độc tính của nhiều thuốc như warfarin, phenytoin, theophylin, propranolol, benzodiazepin Ranitidin có tương tác này nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều (kém 2 - 4 lần). 

Famotidin và nizatidin không gây tương tác kiểu này. 

Các thuốc 

Cimetidin 

Hấp thu nhanh khi uống. Uống 200 mg cimetidin có tác dụng nâng pH và giảm đau trong 1,5 giờ. Liều 400 mg trước khi đi ngủ giữ được pH của dạ dày > 3,5 suốt cả đêm. Với liều 1,0g/ 24 giờ, tỷ lệ lên sẹo là 60% sau 4 tuần và 80% sau 8 tuần. 

Liều dùng điều trị loét dạ dày- tá tràng ở người lớn: uống mỗi lần 400 mg, ngày 2 lần (vào bữa ăn sáng và trước khi đi ngủ) hoặc 800 mg trước khi đi ngủ. Thời gian dùng ít nhất 4 tuần đối với loét tá tràng và 6 tuần đối với loét dạ dày. 

Liều duy trì: 400 mg trước khi đi ngủ 

Khi loét nặng hoặc người bệnh nôn nhiều, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch chậm (ít nhất trong 5 phút) mỗi lần 200 mg, cách 4- 6 giờ một lần. Giảm liều ở người suy thận. 

Liều dùng ở trẻ em: trẻ trên 1 tuổi mỗi ngày uống 25 - 30 mg/ kg, chia làm nhiều lần. Trẻ dưới 1 tuổi mỗi ngày uống 20 mg/ kg, chia làm nhiều lần. 

Cimetidin gây nhiều tác dụng không mong muốn, có nhiều tương tác thuốc hơn các thuốc kháng histamin H2 khác. Vì vậy, trong trường hợp cần phối hợp nhiều thuốc, không nên chọn cimetidin. 

Ranitidin 

Tác dụng mạnh hơn cimetidin 4- 10 lần, nhưng ít gây tác dụng không mong muốn và ít tương tác thuốc hơn cimetidin. 

Liều dùng: uống mỗi lần 150 mg, ngày 2 lần (vào buổi sáng và buổi tối) hoặc 300 mg vào buổi tối trong 4- 8 tuần. 

Liều duy trì: 150 mg vào buổi tối. 

Tiêm bắp hoặc tĩnh mạch chậm (ít nhất trong 2 phút, phải pha loãng 50 mg trong20mL): mỗi lần 50 mg, cách 6- 8 giờ/ lần. 

Famotidin 

Tác dụng mạnh hơn cimetidin 30 lần. 

Liều dùng: uống mỗi ngày 40 mg trước khi đi ngủ trong 4 - 8 tuần. 

Liều duy trì: 20 mg trước khi đi ngủ. Tiêm tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch (pha trong natri clorid 0,9%) mỗi lần 20 mg, cách 12 giờ một lần cho đến khi dùng được đường uống. 

Nizatidin 

Tác dụng và liều lượng tương tự ranitidin, nhưng ít tác dụng không mong muốn hơn các thuốc kháng histamin H2 khác. 

2.2. Thuốc ức chế H+/ K+- ATPase (bơm proton) 

Cơ chế tác dụng 

Các thuốc ức chế bơm proton là những “tiền thuốc”, không có hoạt tính ở pH trung tính. Ở tế bào thành dạ dày (pH acid), chúng được chuyển thành các chất có hoạt tính, gắn vào bơm proton, ức chế đặc hiệu và không hồi phục bơm này. Do đó, các thuốc ức chế bơm proton làm giảm bài tiết acid do bất kỳ nguyên nhân gì vì đó là con đường chung cuối cùng của sự bài tiết acid. 

Thuốc rất ít ảnh hưởng đến khối lượng dịch vị, sự bài tiết pepsin và yếu tố nội tại của dạ dày. Dùng một liều, bài tiết acid ở dạ dày bị ức chế trong khoảng 24 giờ (so sánh với thuốc kháng histamin H 2 tối đa chỉ 12 giờ). Bài tiết acid chỉ trở lại sau khi enzym mới được tổng hợp.. Tỷ lệ liền sẹo có thể đạt 95% sau 8 tuần. 

Chỉ định 

Loét dạ dày- tá tràng lành tính. Phòng và điều trị các trường hợp loét do dùng thuốc chống viêm không steroid. 

Bệnh trào ngược dạ dày- thực quản khi có triệu chứng nặng hoặc biến chứng. 

Hội chứng Zollinger- Ellison (kể cả trường hợp đã kháng với các thuốc khác). 

Dự phóng hít phải acid khi gây mê. 

Chống chỉ định và thận trọng 

Chống chỉ định: quá mẫn với thuốc 

Thận trọng: suy gan, phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Phải loại trừ khả năng ung thư dạ dày trước khi dùng thuốc ức chế bơm proton. 

Tác dụng không mong muốn 

Nói chung thuốc dung nạp tốt. Có thể gặp khô miệng, rối loạn tiêu hóa, tăng enzym gan, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, thay đổi về máu, viêm thận, liệt d ương, phản ứng dị ứng. Do làm giảm độ acid trong dạ dày, nên làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, có thể gây ung thư dạ dày. 

Tương tác thuốc 

Do pH dạ dày tăng nên làm giảm hấp thu một số thuốc như ketoconazol, itraconazol Omeprazol ức chế cytochrom P450 ở gan nên làm tăng tác dụng và độc tính của diazepam, phenytoin, warfarin, nifedipin.

Lansoprazol ít ảnh hưởng đến cytochrom P 450, trong khi pantoprazol không ảnh hưởng đến enzym này. Clarithromycin ức chế chuyển hóa của omeprazol, làm tăng nồ ng độ omeprazol trong máu lên gấp hai lần. 

Các thuốc 

Omeprazol 

Loét dạ dày - tá tràng: uống mỗi ngày một lần 20 mg trong 4 tuần nếu loét tá tràng, trong 8 tuần nếu loét dạ dày. Trường hợp bệnh nặng hoặc tái phát có thể tăng liều tới 40 mg một ngày (uống hoặc tiêm tĩnh mạch). Dự phòng tái phát: 10- 20 mg/ ngày 

- Hội chứng Zollinger- Ellison: liều khởi đầu 60 mg/ ngày. Sau đó điều chỉnh liều trong khoảng 20- 120 mg/ ngày tuỳ đáp ứng lâm sàng. 

Esomeprazol 

Là đồng phân của omeprazol. Mỗi ngày uống 20- 40 mg trong 4- 8 tuần Pantoprazol Uống mỗi ngày một lần 40 mg vào buổi sáng trong 2 - 4 tuần nếu loét tá tràng hoặc 4- 8 tuần nếu loét dạ dày. 

Trường hợp bệnh nặng có thể tiêm tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch mỗi ngày một lần 40 mg đến khi người bệnh có thể uống lại được. 

Lansoprazol 

Loét dạ dày: mỗi ngày uống 30 mg vào buổi sáng trong 8 tuần. Loét tá tràng: mỗi ngày uống 30 mg vào buổi sáng trong 4 tuần. Liều duy trì: 15 mg/ ngày. 

Rabeprazol 

Mỗi ngày uống 20 mg vào buổi sáng trong 4 - 8 tuần nếu loét tá tràng hoặc 6- 12 tuần nếu loét dạ dày. 

Lưu ý: các thuốc ức chế bơm proton bị phá huỷ trong môi trường acid nên phải dùng dưới dạng viên bao tan trong ruột. Khi uống phải nuốt nguyên cả viên với nước (không nhai, nghiền) và uống cách xa bữa ăn (trước khi ăn sáng, trước khi đi ngủ tối). 

3. Các thuốc khác 

3.1. Các muối bismuth 

Được dùng dưới dạng keo subcitrat (trikalium dicitrato), subsalicylat 

Các muối bismuth có tác dụng: 

- Bảo vệ tế bào niêm mạc dạ dày do làm tăng tiết dịch nhày và bicarbon at, ức chế hoạt tính của pepsin. 

- Bao phủ chọn lọc lên đáy ổ loét, tạo chelat với protein, làm thành hàng rào bảo vệ ổ loét chống lại sự tấn công của acid và pepsin. 

- Diệt Helicobacter pylori. Khi dùng riêng, các muối bismuth chỉ diệt được H.pylori ở khoảng 20% người bệnh, nhưng khi phối hợp với kháng sinh và thuốc ức chế bơm proton, có thể tới 95% người bệnh tiệt trừ được H.pylori. Vì thế bismuth được coi là thành phần quan trọng trong công thức phối hợp thuốc. 

Bismuth dạng keo ít hấp thu qua đường uống (chỉ khoảng 1%) nên ít gây độc với liều thông thường. Nếu dùng liều cao hoặc dùng kéo dài có thể gây bệnh não. 

Chống chỉ định: quá mẫn với thuốc, suy thận nặng, phụ nữ có thai. 

Tác dụng không mong muốn: buồn nôn, nôn, đen miệng, đen lưỡi, đen phân (thận tr ọng ở người có tiền sử chảy máu đường tiêu hóa, vì dễ nhầm với đại tiện phân đen). 

Chế phẩm: 

Bismuth subcitrat viên nén 120 mg: Uống mỗi lần 1 viên, ngày 4 lần vào 30 phút trước các bữa ăn và 2 giờ sau bữa ăn tối, hoặc mỗi lần uống 2 viên, ngày 2 lần vào 30 phút trước bữa ăn sáng và tối. Điều trị trong 4- 8 tuần. Không dùng để điều trị duy trì, nhưng có thể điều trị nhắc lại sau 1 tháng. 

* Chế phẩm phối hợp ranitidin và muối bismuth: ranitidin bismuth citrat Ở dạ dày ranitidin bismuth citrat được phân ly t hành ranitidin và bismuth, do đó có cả hai tác dụng của hợp chất bismuth và của ranitidin. Uống mỗi lần 400 mg, ngày 2 lần trong 4 - 8 tuần nếu loét tá tràng hoặc 8 tuần nếu loét dạ dày lành tính. Không dùng điều trị duy trì. 

3.2. Sucralfat 

Sucralfat là phức hợp của nhôm hydroxyd và sulfat sucrose. Giống như bismuth, sucralfat ít hấp thu, chủ yếu có tác dụng tại chỗ. Thuốc gắn với protein xuất tiết tại ổ loét, bao phủ vết loét, bảo vệ ổ loét khỏi bị tấn công bởi acid dịch vị, pepsin và acid mật. Ngoài ra , sucralfat còn kích thích sản xuất prostaglandin (E2, I1,) tại chỗ, nâng pH dịch vị, hấp phụ các muối mật. 

Thận trọng khi dùng ở người suy thận (tránh dùng khi suy thận nặng) do nguy cơ tăng nồng độ nhôm trong máu, phụ nữ có thai và cho con bú. Ít gây tác dụng không mong muốn, chủ yếu là các rối loạn tiêu hóa. Uống mỗi ngày 4,0g, chia làm 2- 4 lần vào 1 giờ trước các bữa ăn và trước khi đi ngủ, trong 4- 8 tuần. Sucralfat làm giảm hấp thu của nhiều thuốc, vì vậy phải uống các thuốc này trước sucralfat 2 giờ. 

3.3. Misoprostol 

Là prostaglandin E1 tổng hợp, có tác dụng kích thích cơ chế bảo vệ ở niêm mạc dạ dày và giảm bài tiết acid, làm tăng liền vết loét dạ dày - tá tràng hoặc dự phòng loét dạ dày do dùng thuốc chống viêm không steroid. 

Do hấp thu được vào máu nên gây nhiều tác dụng không mong muốn: buồn nôn, đầy bụng, khó tiêu, đau quặn bụng, tiêu chảy, chảy máu âm đạo bất thường, gây sẩy thai, phát ban, chóng mặt, hạ huyết áp. 

Chống chỉ định dùng misoprostol ở phụ nữ có thai (hoặc dự định có thai) và cho con bú. Thận trọng: bệnh mạch não, bệnh tim mạch vì nguy cơ hạ huyết áp. 

Liều dùng: 

- Loét dạ dày- tá tràng: mỗi ngày 800 mcg chia làm 2- 4 lần vào bữa ăn và trước khi đi ngủ, trong 4- 8 tuần. 

- Dự phòng loét dạ dày- tá tràng do dùng thuốc chống viêm không steroid: mỗi lần uống 200 mcg, ngày 2- 4 lần cùng với thuốc chống viêm không steroid. 

4. Kháng sinh diệt Helicobacter pylori 

Nếu đã xác định được sự có mặt của H- pylori trong loét dạ dày - tá tràng (bằng test phát hiện), phải dùng các phác đồ diệt H.pylori để vết loét liền nhanh và tránh tái phát. 

Phác đồ phổ biến nhất, đạt hiệu quả cao, đơn giản, sẵn có và chi phí hợp lý là phác đồ dùng 3 thuốc trong 1 tuần (one- week triple- therapy) gồm một thuốc ức chế bơm proton và 2 kháng sinh: amoxicilin với clarithromycin hoặc metronidazol. Phác đồ này diệt trừ được H.pylori trong hơn 90% trường hợp. 

Nếu ổ loét tái phát nhiều lần, ổ loét to, có nhiều ổ loét hoặc các trường hợp loét không đáp ứng với phác đồ 3 thuốc, dùng “phác đồ 4 thuốc trong 2 tuần” gồm thuốc ức chế bơm proton, muối bismuth và 2 kháng sinh. Cũng có thể phối hợp tinidazol hoặc tetracyclin với các kháng sinh khác và thuốc ức chế bài tiết acid để diệt trừ H. pylori.
Click đọc ngay…

Massage trị táo bón cho trẻ sơ sinh hiệu quả

10:41 |

Táo bón của trẻ sơ sinh có thể được giải quyết đáng kể nếu cha mẹ biết massage cho trẻ hàng ngày đúng giờ và đúng phương pháp
Click đọc ngay…

Làm gì khi bị viêm dạ dày cấp

08:40 |
Viêm dạ dày cấp là phản ứng viêm chỉ hạn chế ở niêm mạc dạ dày. Đây là bệnh thường gặp, khởi phát và diễn biến nhanh chóng do tác dụng của tác nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày. 

Viêm dạ dày cấp thường xuất hiện nhanh, mất đi nhanh và không để lại di chứng. Nhưng nếu không được phát hiện sớm và biết cách điều trị đúng sẽ dẫn đến viêm dạ dày mạn tính, viêm loét dạ dày. 

Viêm dạ dày có thể do yếu tố nội sinh hoặc ngoại sinh. 



Yếu tố ngoại sinh thường gặp là virut, vi khuẩn và độc tố của chúng, thức ăn quá nóng, lạnh hoặc bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc do vi khuẩn: tụ cầu, E.coli..., các chất ăn mòn, các kích thích nhiệt, dị vật hay một số loại thuốc như aspirin ... 

Yếu tố nội sinh thường do đường máu trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp (viêm phổi, viêm ruột thừa, thương hàn...), bỏng, nhiễm phóng xạ, chấn thương sọ não..., dị ứng thức ăn (tôm, cua, ...). 

Khi bị viêm dạ dày cấp, người bệnh có biểu hiện đau vùng thượng vị dữ dội, cồn cào, nóng rát, có khi âm ỉ, ậm ạch khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, hoặc nôn nhiều, ăn xong nôn ngay, nôn hết thức ăn thì nôn ra dịch chua, có khi nôn cả ra máu, lưỡi bẩn, miệng hôi, sốt 39 - 40oC, thường kèm theo viêm ruột, tiêu chảy. 

 Trong bệnh viêm dạ dày cấp tính, quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, hồi phục nhanh và hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu người bệnh không hạn chế những thực phẩm gây tổn thương niêm mạc dạ dày như rượu, bia, ớt, tỏi, ..., những món ăn gây khó tiêu như chất béo, thức ăn chiên xào, gân sụn, hay những thực phẩm gây đầy hơi như nước giải khát có gas, ... thì viêm dạ dày cấp rất dễ tái phát và nếu bị nhiều đợt có thể chuyển thành viêm mạn tính do niêm mạc bị phá huỷ liên tiếp và có vai trò của cơ chế miễn dịch. 

Khi nghi ngờ bị viêm dạ dày cấp, người bệnh cần: 

- Ngưng ngay việc sử dụng các chất có hại cho dạ dày. 

- Nên uống lòng trắng trứng hoặc sữa bò loãng. 

- Ăn thức ăn loãng, mềm, dễ tiêu và đủ dinh dưỡng để bảo vệ niêm mạc dạ dày. Nên ăn chậm, nhai kỹ, giữ khoảng cách đều đặn, hợp lý giữa các bữa ăn. Lúc đầu, nên ăn những thức ăn loãng; sau đó, người bệnh có thể dần dần ăn những thức ăn đặc hơn. 



Nếu không đỡ, bệnh nhân không nên tự ý dùng thuốc mà nên đến khám tại các cơ sở y tế. Tại đây bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm để chẩn đoán: 

- Nội soi dạ dày: Thấy niêm mạc dạ dày phù nề xung huyết đỏ rực, có những đám nhầy dày hoặc mỏng, Các nếp niêm mạc phù nề, niêm mạc kém bền vững, dễ xuất huyết, vết trợt. 

- Dịch vị: tăng tiết dịch, tăng toan, trong dịch có BC, tế bào mủ. 

- X quang: Nếp niêm mạc thô, ngoằn nghèo, bờ cong lớn nham nhở, túi hơi rộng. 

- Xét nghiệm máu: Bạch cầu tăng, công thức bạch cầu chuyển trái, máu lắng tăng. 

Dựa trên sự thăm khám và các kết quả xét nghiệm, bác sỹ sẽ đưa ra chẩn đoán xác định cũng như mức độ bệnh, từ đó sẽ có hướng điều trị thích hợp cho bệnh nhân. 

Thạc sĩ - Bác sĩ Vũ Mạnh Cường
Click đọc ngay…

Tỷ lệ ung thư gan ở Việt Nam đứng đầu thế giới

14:45 |
Nước ta có tỷ lệ bệnh nhân ung thư gan cao nhất thế giới, trung bình mỗi năm có trên 10.000 ca bệnh mới phát hiện. Theo phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Băng Sương, Trưởng khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, ung thư gan xếp thứ ba trong nhóm ung thư gây tử vong nhiều nhất thế giới, chỉ sau phổi và dạ dày. 

Năm 2010 ước tính toàn cầu có khoảng 754.000 người tử vong do ung thư gan. Trung bình mỗi năm có thêm nửa triệu ca mắc mới. Hơn 80% số bệnh nhân ở các quốc gia châu Á và khu vực châu Phi cận Sahara. Dạng ung thư gan phổ biến nhất là Carcinom tế bào gan (HCC), chiếm đến 80%. 



Thực tế lâm sàng ghi nhận nguyên nhân dẫn đến ung thư gan chủ yếu là viêm gan mạn tính do virus viêm gan C (HCV) và viêm gan B (HBV) dẫn đến xơ gan. Đây là bệnh cảnh nền của 70-80% tổng số ca ung thư gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghiện rượu, độc tố aflatoxin của nấm Aspergillus flavus trong ngũ cốc. 

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao nên có tỷ lệ ung thư gan cao. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca ung thư gan mới phát hiện, tỷ lệ này cao nhất thế giới. 

Điều tra dịch tễ ở Hà Nội, Bắc Giang cho thấy tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và C lần lượt là 8,0 % và 2,7%. Tại TP HCM, ung thư gan đứng thứ nhất trong số 10 loại ung thư thường gặp ở nam giới (với tần xuất 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm), thứ sáu ở nữ (với tần suất 8,3 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm). 

Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ ba ở nam giới và thứ bảy ở nữ. Khảo sát cho thấy bệnh nhân ung thư gan được phát hiện ở giai đoạn đầu nếu được phẫu thuật triệt để hoặc ghép gan sẽ mang lại kết quả tốt, tỷ lệ sống lên đến 80%. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển như nước ta, bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn cuối nên ghép gan không đạt kết quả tốt. Khi đó ung thư đã xuất hiện tại các tạng khác, có khả năng lây lan vào gan mới ghép, tỷ lệ sống sót sau 5 năm chưa đến 10%. 

Bác sĩ Băng Sương nhìn nhận, ung thư gan tiến triển thầm lặng, không có triệu chứng ở giai đoạn sớm nên đa số bệnh nhân được phát hiện muộn. Do vậy bác sĩ khuyên những người thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ cao như mắc bệnh viêm gan B, C, xơ gan, uống rượu nhiều hoặc trong gia đình từng có người bị ung thư gan, nên thường xuyên kiểm tra tầm soát để phát hiện bệnh sớm. 

Ở góc độ khác, tiến sĩ Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cho rằng tiêm phòng văcxin viêm gan B có vai trò vô cùng quan trọng trong phòng ngừa ung thư gan, đặc biệt ở trẻ em. Tuy vậy, những năm gần đây xảy ra một số trường hợp tai biến nghiêm trọng, thậm chí tử vong liên quan đến tiêm chủng khiến nhiều phụ huynh hoang mang không cho con em đi tiêm. 

Các bệnh viện cũng ngại triển khai tiêm ngừa vì lo sợ rủi ro. Từ đó dẫn đến tỷ lệ tiêm văcxin giảm hẳn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có viêm gan B. 



Theo bà Hồng, tỷ lệ tai biến do tiêm chủng ở nước ta trong giới hạn cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), song ngành y tế đang nỗ lực triển khai những giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ này. 

Thời gian qua, Bộ Y tế tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ tiêm chủng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu sốc phản vệ sau tiêm, xử trí kịp thời, đúng phương pháp sẽ cứu sống được các trẻ bị tai biến nặng. Bên cạnh đó còn hướng dẫn phụ huynh cách phát hiện sớm các dấu hiệu tai biến nặng để kịp thời đưa đến cơ sở y tế để xử trí theo đúng phác đồ. 

Khảo sát của WHO tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh viêm gan C gia tăng do phần lớn người dân và bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh nên không có khái niệm về tầm soát, điều trị và phòng ngừa lây lan. Rất nhiều người bệnh chủ quan cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm virus này nên không tiến hành các xét nghiệm sớm, vô tình lây truyền mầm bệnh cho những người xung quanh. 

Các chuyên gia khẳng định việc phát hiện viên gan C quá muộn sẽ gây khó khăn trong điều trị. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm, đúng liệu trình có thể khỏi hẳn mà không để lại di chứng. Chính vì thế việc chủ động xét nghiệm tầm soát là biện pháp tốt nhất để hạn chế lây lan và điều trị dứt điểm.
Click đọc ngay…

Thực hư chuyện dùng mật lợn điều trị bệnh trĩ

10:05 |
Gần đây trên các diễn đàn, nhiều người truyền nhau cách chữa trĩ theo cách dân gian, đó là lấy một ít mật lợn bôi vào chỗ đau ở vùng hậu môn. Liệu phương pháp này có hiệu quả hay nguy hiểm? Hãy nghe ý kiến của các nhà chuyên môn.

Thận trọng khi dùng mật, mỡ lợn chữa trĩ 

Chị Nguyễn Thị Hoài (ở Hà Nội) bị táo bón và đi ngoài ra máu. Đi khám chị được bác sĩ cho biết bị trĩ nhẹ và cho thuốc về uống. Chị Hoài vừa kết hợp uống thuốc và điều chỉnh sinh hoạt, ăn uống nên bệnh thuyên giảm.



Gần đây, chị đọc được thông tin trên một số diễn đàn là dùng mật lợn bôi vào chỗ đau vùng hậu môn sẽ khỏi trĩ nên làm theo. Nào ngờ bệnh nặng hơn, búi trĩ lòi cả ra ngoài gây đau đớn, khổ sở. Nhiều khi ăn, ngồi làm việc, cơn đau đớn khiến chị hay cáu bẳn, mệt mỏi. Thậm chí, việc quan hệ vợ chồng cũng mất hết cảm hứng nên chị tìm cách thoái thác.

Con trai chị Nguyễn Bích Chi (ở Hưng Yên) thường xuyên đi đại tiện khó, phải rặn nhiều, đau vùng hậu môn vì phân khô, cứng… Để giải quyết, chị Chi thường xuyên dùng thuốc thụt tháo cho con, ban đầu còn có hiệu quả nhưng gần đây, vùng hậu môn của cháu chảy máu do bị lệ thuộc vào thuốc, mất phản xạ.

Theo BSCKII Huỳnh Tấn Vũ (Bộ môn Y học cổ truyền, ĐH Y Dược TP HCM), trong y học cổ truyền, mật động vật thường dùng làm thuốc chữa một số bệnh nhưng khi dùng phải hết sức thận trọng về liều lượng, phương thức bào chế, cách sử dụng và nhất thiết phải có sự chỉ định, theo dõi của các thầy thuốc chuyên khoa. Việc mật lợn bôi chữa trĩ có thể gây viêm nhiễm.

Một số mật động vật, y học hiện đại cũng đã nghiên cứu và chứng minh tác dụng dược lý trên nhiều phương diện như mật gấu, mật lợn... Chẳng hạn, mật lợn giúp kích thích tiêu hóa, nhuận tràng thông tiện, kháng khuẩn, tiêu viêm... Tuy nhiên, mọi dịch mật đều chứa axít có độc tố cao.

Trong dịch mật lại chứa các kim loại nặng do loài vật ăn phải và đào thải qua mật. Dịch mật giúp tiêu hóa thức ăn, loài vật ăn gì thì thành phần cấu tạo của mật sẽ có những chất để tiêu hóa thức ăn đó. Nếu sử dụng không đúng sẽ dẫn đến ngộ độc. Chưa kể đường dẫn mật thông với ruột, nơi chứa rất nhiều vi khuẩn. Nếu mật bị nhiễm khuẩn, uống sống hoặc bôi ngoài cũng có thể đưa mầm bệnh vào cơ thể.

PGS.TS Đỗ Ngọc Tấn – chuyên gia lĩnh vực trĩ (Cty Cổ phần phát triển Công nghệ y học Việt Nam ĐNT) cũng cho rằng, việc sử dụng mật hay mỡ lợn bôi chữa trĩ chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu nên không thể đánh giá hiệu quả.

Người mắc bệnh trĩ cần đi khám để biết mức độ nặng nhẹ của bệnh, qua đó sẽ có cách điều trị phù hợp với tình trạng bệnh. Người bị bệnh trĩ thường kết hợp bị nhiều loại bệnh khác thuộc đường tiêu hóa như bệnh viêm đại trực tràng, viêm loét ống trực tràng, khối u sùi trong ống hậu môn, rò hậu môn, táo bón thường xuyên… Đây cũng là một trong những vấn đề phức tạp khi điều trị những bệnh lý ở vùng ống hậu môn cũng như bệnh trĩ, cần phải tìm một phương pháp điều trị thích hợp mới có thể khỏi.

Lựa chọn phương pháp nào? 

PGS.TS Đỗ Ngọc Tấn cho biết, trĩ là bệnh do có sự giãn quá mức các tĩnh mạch ở hậu môn - trực tràng, đặc biệt có sự phình tĩnh mạch các đám rối tĩnh mạch trĩ ở mô xung quanh hậu môn đưa đến hình thành búi trĩ. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị trĩ khác nhau. Trường hợp nhẹ, việc điều trị có thể dùng thuốc hoặc thay đổi chế độ ăn.

Có các loại thuốc dùng trị trĩ như: Thuốc uống, thuốc mỡ bôi hoặc thuốc đạn đặt vào trong hậu môn. Người bệnh cần sử dụng thuốc đúng chỉ định và kiên trì dùng thuốc đủ thời gian.

Ngoài ra, còn một số phương pháp khác như liệu pháp làm đông bằng tia hồng ngoại; Phẫu thuật, phổ biến nhất là phương pháp Longo và triệt mạch trĩ bằng máy siêu âm Doppler; Phương pháp tiêm thuốc gây xơ trực tiếp vào búi trĩ và vùng quanh các búi trĩ đang căng giãn ở vùng dưới niêm mạc có tác dụng rất tốt đối với mọi trường hợp trĩ nội, ngoại.

Người bệnh không cần phẫu thuật, khi tiêm đủ liều và số lần tại các điểm khác nhau sẽ tăng cường khả năng co thắt của lớp cơ thắt hậu môn và cơ nâng hậu môn. Phương pháp điều trị tiêm búi trĩ đơn giản, an toàn và hầu như không có tai biến. Tránh cho bệnh nhân không phải đau đớn, mất máu, nằm viện.

Đặc biệt là không phải nghỉ lao động trong thời gian điều trị và không phải gặp các tai biến mà các phương pháp cắt, mổ thường. Việc cắt, thắt làm mất chức năng lưu thông máu, lượng máu lưu thông sẽ dồn sang hệ thống mạch máu khác kết quả lại gây ra trĩ. Đó là lý do tại sao trĩ rất hay bị tái phát.

Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Tấn, để tránh mắc trĩ, mọi người nên thay đổi thói quen sinh hoạt có hại dễ gây bệnh như tránh đứng hoặc ngồi quá lâu; không nhịn đại tiện. Ngoài ra, mọi người cần uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả, rau và ngũ cốc…

Nên đi điều trị ngay từ giai đoạn khi có các dấu hiệu như chảy máu khi đi vệ sinh, nứt kẽ hậu môn, ngứa hậu môn hoặc quanh hậu môn… tránh để tình trạng bệnh nặng thì việc điều trị sẽ khó gây tốn kém.

“Để tránh mắc trĩ, mọi người nên thay đổi thói quen sinh hoạt có hại dễ gây bệnh như tránh đứng hoặc ngồi quá lâu; không nhịn đại tiện. Ngoài ra, mọi người cần uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả, rau và ngũ cốc… Nên đi điều trị ngay từ giai đoạn khi có các dấu hiệu như chảy máu khi đi vệ sinh, nứt kẽ hậu môn, ngứa hậu môn hoặc quanh hậu môn… tránh để tình trạng bệnh nặng thì việc điều trị sẽ khó gây tốn kém”.


PGS.TS Đỗ Ngọc Tấn
Click đọc ngay…